
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về nguồn gốc quyền sử dụng đất tranh chấp: các đương sự thống nhất là của ông, bà để lại (bị đơn bà Đặng Thị T và mẹ của nguyên đơn bà Đặng Thị N là chị em ruột). Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị Tuyết M khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Đặng Thị T trả lại cho nguyên đơn diện tích đất 3.933,9m² tại thửa 89 và diện tích đất 997m² tại thửa 90, tờ bản đồsố2, khu vực LP, phường PT, quận RC, thành phố Cần Thơ do nguyên đơn đứng tên quyền sử dụng đất theo thủ tục hưởng di sản thừa kế của cha mẹ là ông Nguyễn Văn B và bà Đặng Thị N.
[2] Bị đơn bà Đặng Thị T cho rằng đất tranh chấp thửa 89 và 90 của cha mẹ bà sử dụng từ trước năm 1975, sau đó cho lại bà quản lý, sử dụng đến nay (kể cả thời gian đưa đất vào tập đoàn và sau khi tập đoàn tan rã) nhưng gia đình bà không đăng ký kê khai quyền sử dụng đất. Việc ông Nguyễn Văn B không sử dụng đất mà làm thủ tục đăng ký đứng tên quyền sử dụng hai thửa đất nêu trên bà không hay biết đến khi nguyên đơn khởi kiện vào năm 2016 thì phát sinh tranh chấp.
[3] Diện tích đất 4.985m² tại thửa 89, 90 do ông Nguyễn Văn B (là cha của ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị Tuyết M) kê khai, đăng ký tên sổ mục kê, sổ địa chính. Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/10/1998 của Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ (cũ) đã cấp cho Hộ ông Nguyễn Văn B tại bản đồ02, thửa 89 (diện tích 4.125m2) và thửa 90 (diện tích 860m2); đất tọa lạc tại Ấp LP-Đông Phú, huyện Châu Thành. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện có vẽ sơ đồ đất theo tỷ lệ1/5000 và người đo vẽ là Trần Văn N1, người kiểm tra là Đinh Viết Q.
[4] Tại văn bản số181/CNVPĐKĐĐ ngày 13/4/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận RC trả lời Phòng Tài nguyên và Môi trường quận RC với nội dung: Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận không lưu trữ hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp ngày 06/10/1998 cho Hộ Nguyễn Văn B. Văn bản số734/UBND ngày 04/5/2019 của Ủy ban nhân dân quận RC trả lời Tòa án nhân dân quận RC thể hiện nội dung: “Về nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng quy định của pháp luật…Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho (hộ) Nguyễn Văn B(năm 1998) không có tiến hành đo đạc cụ thể mà thông qua số liệu đo đạc của việc thành lập bản đồ theo Chỉ thị số 299/TTg ngày 10/11/1980”.Như vậy, có sự mâu thuẫn giữa Văn bản trả lời của UBND số734/UBND ngày 04/5/2019 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thể hiện có vẽ sơ đồ đất theo tỷ lệ 1/5000 và người đo vẽ là Trần Văn N1, người kiểm tra là Đinh Viết Q). Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ nội dung này là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, dẫn đến kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án. Quá trình giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần đánh giá lại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
[5] Tại biên bản thẩm định, đo đạc, định giá ngày 21/8/2018 của Tòa án nhân dân quận RC, thành phố Cần Thơ thể hiện hiện trạng các loại cây lâu năm, cây khác trên đất; Tòa án xác định là của các ông Nguyễn Văn M1, ông Nguyễn Văn H(các con của bà Đặng Thị T) đã trồng. Xét quá trình sử dụng đất thực tế, hai người làm chứng là ông Trương Minh D và ông Võ Hữu C đều xác định đất tranh chấp do bà Đặng Thị T sử dụng ổn định lâu dài từ trước năm 1975 đến nay. Lời khai của người làm chứng phù hợp với hiện trạng sử dụng đất, gia đình bà Đặng Thị T đang quản lý, sử dụng (được nguyên đơn thừa nhận). Như vậy, xác định gia đình nguyên đơn không sử dụng phần đất nêu trên nhưng lại kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng với hiện trạng thực tế sử dụng đất, việc đất trong quá trình thực tế có đưa vào tập đoàn hay không cũng chưa được thu thập, xác minh chứng cứ để làm rõ.
[6] Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Nguyễn Văn D, buộc bị đơn bà Đặng Thị T trả lại diện tích đất tranh chấp cho nguyên đơn là chưa đánh giá đúng, toàn diện chứng cứ, quyết định chưa phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
[Nguồn: Quyết định GĐT số 85/2025/DS-GĐT ngày 8/5/ của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
Xem file đính kèm toàn văn Quyết định GĐT số: 85/2025/DS-GĐT
…………………
